TƯƠNG DỰC CÔNG, ĐÔ THỐNG BÙI VĂN KIỆT

  28/03/2018

Đô thống Bùi Văn Kiệt quê làng Đồng Thanh, xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình (thời Đinh, Lý, Trần là ấp Hàm Châu, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương; thời Lê- Mạc là xã Kim Thanh thuộc tổng Tri Lai, huyện Kiến Xương sau năm 1890 đổi tên xã Kim Thanh thành xã Đồng Thanh). Tổ tiên xa đời họ Bùi làng Đồng Thanh là “ Đinh triều Anh Dực tướng quân sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm thiềm sự lĩnh chức trấn Đông Tiết độ sứ, tước Tĩnh An hầu Bùi Quang Dũng – người có công mở ấp Hàm Châu (làng Đồng Thanh).

Thân phụ quan Đô thống là Quang Khiêm đại phu Bùi Quý Công. Theo gia phả họ Bùi: quan Đô thống sinh năm Diên Ninh thứ 3 đời Lê Nhân Tông (1456). Cụ là người “văn học sáng suốt, có dũng lược, các sách thiên văn, binh pháp đều thông hiểu. Đời vua Lê Thánh Tông, khoảng năm Hồng Đức, Tân Mão (1471) cụ thi đỗ sinh đồ (tương đương bậc tú tài thời Nguyễn – Khi ấy quan Đô thống mới 16 tuổi, chưa được bổ làm quan, phải chờ tới tuổi trưởng thành mới được bổ dụng). Năm 26 tuổi (Hồng Đức thứ 12 – tức năm 1481) nhân theo Lại Điển ra làm quan. Bước đầu thụ chức Đăng sỹ tá lang, trải qua chức ấy, đến đời Hiến Tông, khoảng năm Cảnh Thống làm quan Tri phủ”, trải mấy năm, đến đời vua Chiêu Tông, niên hiệu Quang Thiệu làm chức Đô sát” (ở viện Đô sát).

Từ lúc Tri phủ Bùi Văn Kiệt về kinh làm việc ở viện Đô sát, triều đình xẩy ra nhiều chuyện, hết việc Thiết Sơn Bá lộng hành đến việc phe cánh Trịnh Tuy, Nguyễn Hoằng Dụ, Mạc Đăng Dung tranh đoạt quyền bính… Đến năm Nhâm Ngọ (1522) thì quyền bính Mạc Đăng Dung đã lớn lắm rồi. Con gái Đăng Dung nói là vào cung hầu vua, thực chất là theo dõi nhà vua, Dực Mỹ hầu Mạc Đăng Doanh (con trai Đăng Dung) nói là vào trông coi điện Kim Quang thực chất là vây bọc hoàng cung. Các văn thần võ tướng như Phạm Gia Mô, Vũ Hộ và cả người tôn thất như Lạng quận công Lê Phụ, Mỹ quận công Lê Chu cũng đều về phe Mạc Đăng Dung, tình thế quẫn bách, Chiêu Tông phải cùng bọn cận thần là Phạm Hiến, Phạm Thứ đang đêm trốn khỏi kinh thành, sai người đem mật chiếu vào Thanh Hóa yêu cầu Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy và Trịnh Duy Thuân đem quân ra Sơn Tây cứu giá…

Nghe tin kinh thành có biến, Mạc Đăng Dung cất quân về Thăng Long rồi cùng các thần liêu tôn hoàng đệ Lê Xuân (em ruột Lê Chiêu Tông) lên làm vua. Thái hậu Trịnh Thị Loan khóc thảm thiết: “Đứa con của già này rồi cũng bị bắt làm vua, giống như anh nó bị loạn thần vây bọc, mạo danh làm việc tỏ đạo khiến hậu thế chê cười”. Mặc cho thái hậu chống đối, hoàng tử Xuân vẫn bị dìu lên ngôi, mở đầu niên hiệu Thống Nguyên.

Bị quân Mạc nhân danh vua Thống Nguyên (Cung Hoàng Đế) từ Thăng Long đánh mạnh, Trịnh Tuy ép Lê Chiêu Tông rút chạy về Thanh (vội vã đến mức không kịp đón hoàng hậu và hoàng tử Ninh đi theo). Bấy giờ quan Đô sát Bùi Văn Kiệt trước đó nhiều năm làm Tri phủ và luân chuyển qua nhiều phủ phải bôn ba, yêu cầu các tri phủ đương nhiệm phải cung đón cho triều đình vua Quang Thiệu, đem quân bản bộ trong phủ và huyện cùng đến Cần vương cứu giá. Kịp khi ấy An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy cất trên 2 vạn quân từ Thanh Hóa ra Bắc quyết giải phóng Kinh Thành. Vũ Xuyên bá Đăng Dung dùng kế thanh dã, cho chuyển hết vàng bạc, kho tàng về Gia Phúc, Hồng Thị (Hải Dương và ép vua Cung Hoàng dời về Hồng Thị) thành phố Hải Dương. Vua Chiêu Tông cùng các tướng và vài vạn binh mã cùng Đô sát Bùi Văn Kiệt lấy lại Kinh thành dễ dàng. Điện Kim Quang là nơi thiết triều của Chiêu Tông và Đô sát Bùi Văn Kiệt được thăng chức Đô thống. Bấy giờ, Kinh thành kho lẫm trống không, số lương thảo do Đô thống (cựu tri phủ) họ Bùi vận động đưa về Kinh không nuôi nổi hai, ba vạn quân… Nhân lúc kinh thành quân lương cạn kiệt, quân dân càng hoang mang, bấy giờ Mạc Đăng Dung mới huy động đại binh Giang Đông áp sát tả ngạn sông Hồng, từ đại bản doanh Bồ Đề (Gia Lâm) định ngày tổng công kích Thăng Long.

Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy không thể giữ được kinh thành, đang đêm giả đi tuần rồi phao tin giặc đã đến, ép Lê Chiêu Tông, hoàng hậu Ngọc Quỳnh, hoàng tử Ninh cấp tốc trở về Tây Đô. Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đem quân mở đường đi trước, Đô thống Văn Kiệt cùng Phiêu kỵ tướng quân (em trai cụ Văn Kiệt) hộ giá đi giữa, Nguyễn Hoằng Dụ đi sau chặn đường quân Mạc truy kích. Nhưng binh hùng tướng mạnh của Lê Cung đế (thực chất là của Đăng Dung) chia đi các ngả đón đường chặn đánh khắp nơi, đến nỗi tiền quân, trung quân, hậu quân không thể cứu ứng cho nhau, các thế đội tùy cơ ứng biến.

Về sự kiện này gia phả họ Bùi chép rất kỹ:

“Bấy giờ quân họ Mạc thế mạnh, quân nhà Lê trốn tránh, ai nấy tan lạc, lở tở như là ngói dỡ cả. Cụ Văn Kiệt lại phải phù vua Quang Thiệu chạy đi, đến huyện Ngự Thiên tạm trú ở huyện thành ấy (cũng là để cầu liệt tổ phù hộ độ trì và từ biệt cố ấp mà vương khảo Kiến Vương, tiên phụ Cẩm Giang Vương). Đương khi vội vàng, điên đảo, quân giặc theo sau nên phải đắp thêm (bồi trác) thành lũy ở đất mà chống nhau với quân Mạc. Nhưng chốn ấy thành hẹp, lương ít mà vua tôi sức yếu thế cùng, giặc Mạc đem quân với bốn bề vây bọc, mấy tầng nên thành bị hãm, thành bị hãm mấy ngày, quân sĩ rất là đói khốn cụ mới lạy trước vua Quang Thiệu khóc lóc mà thưa rằng: Tôi chịu ơn hậu nhà vua, phải cố hết lòng báo nước dẫu chết cũng cam, nhưng bây giờ giặc dữ dội, trong thành cũng bị đói khốn, ngoài thành không ai cứu viện, bó tay chịu chết thì cũng hoài đời, tôi xin thiết kế phù bệ hạ ra ngoài vây, nếu trời giúp cho tất nhiên chạy thoát để mà liệu việc về sau, thực là phúc cho bốn bể. Đương lúc đường cùng thế bách, chết đã đến nơi, tôi đã hết lòng, vua cũng phải liều chết. Vua Quang Thiệu nghe lời rồi, cụ mới lên thành ngắm xem, nhận tính đón xem trăng: Giờ Tý ngày mai phá vây hẳn thoát được. Cụ mới thu xếp hết cả tre gỗ, rơm cỏ ở trong thành sắp sẵn để đấy. Sai giết hết cả lừa ngựa cho quân sĩ ăn. Đến nửa đêm ấy cụ đem vật liệu sang mặt thành bên Bắc, đốt lửa sai quân sĩ đánh lộn mù một hồi lâu. Quân giặc thấy lửa liền kéo cả sang mặt thành phía Bắc đánh nhau… cụ mới sai em cụ là Phiêu kỵ tướng quân cõng người cung phi nhà vua (đúng ra là hoàng hậu Ngọc Quỳnh – B.DL chú), cụ thì tự xuất thân cùng vua Quang Thiệu (Lê Chiêu Tông) sang mặt thành bên Nam đột ra chạy thoát được rồi lần đường vào sứ Thanh Hóa”.

Trong 2 năm 1523, 1524 Mạc Đăng Dung còn 2 lần sai con trai là Mạc Quyết cất quân vào thanh tảo xứ Thanh, lệnh cho đầu mục các châu huyện ráo riết truy tìm tung tích Lê Chiêu Tông. Năm Thống Nguyên thứ 2 quan quân bị thua to phải rút lên vùng thượng du, đầu năm Thống Nguyên (1523) Đông Sơn hầu Mạc Quyết lại tiếp tục tấn công miền thượng du Thanh Hóa.
Gia phả họ Bùi chép: “Bấy giờ vận nhà Lê suy, quân Mạc thế mạnh, kẻ tham lam trục lợi vong quốc sự thù thì nhiều, người tế thế kinh bang trung quân ái quốc thì ít, hai anh em cụ lấy một thân phù hai vị vừa quân chủ, vừa cung phi, phải giấu sang làm hèn, giấu khôn làm dại, tìm được chỗ ở không có lương ăn, ẩn lánh khó khăn, gian truân khổ sở, trong thì nhiễu nhương điên đảo, lấy một thân trơ trọi, hai bàn tay vo chống với muôn nghìn quân giặc thì còn thể nào chống giữ cho được, huống chi một người phù trì, trăm người do thám không thể lẩn lút sao cho được. Vì thế Đăng Dung nó lại đem quân tìm tòi, bắt được vua Chiêu Tông ở Thanh Hóa mà anh em cụ không sao chống giữ được nữa.

Về sự kiện Lê Chiêu Tông bị ép về cung, sử chép : Tháng 10 năm Ất Dậu (1525) vua Cung Hoàng cho đón Chiêu Tông từ Đông An Nhân, xã An Nhân, sách Thủy Cử, châu Lang Chánh, phủ Thanh Đô về kinh… ngày 1 tháng 11 vua về đến Kinh thành.
Bấy giờ Hoàng đệ Xuân (Cung Hoàng) vẫn còn được quần thần vị nể, hoàng Thái hậu Trịnh Thị Loan vẫn còn chút uy quyền, nhưng một bậc từng ở ngôi quân chủ đều biết một khi hoàng đế đã bị truất ngôi, ví như vua Huệ Tông triều Lý, vua Xương Phù (Trần Phế Đế) trước sau đều bị hại, dù Trần Thái Tông là con rể Lý Huệ Tông, Trần Phế Đế là con vua Duệ Tông, gọi Thượng hoàng Nghệ Tông bằng bác ruột, rồi bác vẫn hại cháu… Bởi vậy trước khi ép về cung, vua Chiêu Tông vẫn sai anh em họ Bùi đem hoàng tử Duy Ninh chạy trốn. Buổi đầu cụ Văn Kiệt và thân đệ rước hoàng hậu và hoàng tử chạy vào nhà họ Quách, thuộc Châu Thổ (?) sau sợ lộ lại trốn đi nơi khác, tiếp tục “giấu sang làm hèn, giấu khôn làm dại” và anh em hai vị lão thần: cụ Văn Kiệt tròn 60 tuổi, cụ Phiêu Kỵ cũng ngót nghét “lục tuần”, hai thân già chẳng chăm sóc nổi một bà hoàng, một cậu hoàng tử mới tròn 10 tuổi (1515 – 1525), vì thế hai cụ cho người về Kim Thanh đón phu nhân cùng 2 con là Bùi Nhất Lang và Bùi Nhị Lang (tuổi độ 35, 37 còn đang sung sức) và các cháu nội bí mật vào Thanh Hóa lo làm ăn và phụng sự ấu chúa.

Theo truyền thuyết dân gian, trong khoảng 8 năm (1525 – 1533) hoàng tử Ninh sống trong nghèo túng, bơ vơ đầu đường xó chợ, khi ngủ vật vờ thềm quán, khi lang thang quán vẹo lều siêu, túi không có tiền, chuyện ăn quà ký vào sổ nợ dần trở thành “chúa” ăn quà ký nợ, dân địa phương gọi là cậu Chổm; là chúa Chổm…

Tuy nhiên chúa nghèo nhưng nhà chúa “tốt vía”. Chủ quán nào được chúa vào “mở hàng” ăn chịu trong đầu buổi sáng, cả ngày hôm đó khách hàng nhộn nhịp, hàng hóa đắt như “tôm tươi”, nhà buôn “một vốn bốn lời”… nên dù biết chúa vào quán ăn sẽ chẳng thu được tiền thanh toán.. nhưng mỗi khi ra phố chợ, dân hàng phố tranh nhau mời chào, cung đốn chu tất… Vì thế chúa dần thành chàng trai phóng túng, thành chúa nợ, dân có câu tục ngữ: “nợ như chúa Chổm”. Có người còn khen nhà chúa “vô tư” và đem đối chiếu vua nước Ngô, khi còn tại vị có cung vàng điện ngọc, tán tía lọng vàng nhưng xem chừng chẳng hơn gì chúa Chổm hào phóng của họ:
Vua Ngô ba sáu tàn vàng

Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì

Chúa Chổm đánh chén tì tì

Thác xuống âm phủ khác gì vua Ngô.

Theo truyền thuyết dân gian: Bấy giờ Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim (Hậu duệ An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ) cùng các đại thần Đại tư đồ Đinh Lan (quê Đô Kỳ, Hưng Hà)… họp tại Lão Qua muốn trung hưng nhà Lê, ngặt nỗi nhà Mạc đang rất mạnh. Trong 2 đời vua Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh; người đi đường không nhặc của rơi, nơi làng xóm đêm đi ngủ mọi nhà không cần đóng cửa, trâu bò thả bãi hàng đêm không bao giờ mất, thần dân ca ngợi:

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng chẳng có người ăn

Các cựu thần nhà Lê dẫu tài giỏi, tận trung báo quốc, nhưng nếu không tìm được kế sách giỏi như Khổng Minh thì cũng chỉ dấn thân vào xương máu. Nghe nói có cụ Trạng Trình ở Dương Kinh thấu suốt cơ trời vận nước, đoán được sự đời vận nước trước, sau 300 năm. Các ông cử người về Cổ An xin cao kiến Trạng Trình. Trạng tiếp khách trịnh trọng nhưng chẳng cho lời chỉ giáo, chỉ thiết cơm rượu rồi cùng sứ giả ra thăm chùa. Nhận thấy lá đa rụng sân chùa, Trạng nhắc nhở sư: “Có quét lá đa mới được ăn oản nhà phật, vãi cố gắng đèn nhang tam bảo mới có cơ duyên đầy thuyền mãn quả”. Khi về gia trại, Trạng gọi gia nhân đến trước mặt khách dặn dò: “ta xem năm nay có thể được mùa. Con nhớ lấy thóc giống cũ trong nhà mà gieo chắc chắn sẽ thu hoạch lớn”. Sứ giả trở lại Lão Qua kể lể sự việc, các ông Nguyễn Kim, Đinh Công, Lại Thế Khanh cùng hiểu ý: phải tìm được dòng đích trưởng vua Lê, tôn làm minh chủ mới kêu gọi được thần quân quay về. Hai vua Tương Dực và Lê Cung Hoàng không có con nối, chỉ có hoàng đế Chiêu Tông đã sinh hoàng tử Duy Ninh, nhưng trong khoảng 10 năm tao loạn, không rõ hoàng hậu Ngọc Quỳnh và hoàng tử giờ đang lưu lạc đâu liền cho người về trong nước tìm kiếm…
Chuyện dân gian kể về sứ bộ tìm vua rất ly kỳ… tìm đâu ra người nằm ngủ, thế ngủ “rồng đen quấn cột”, tìm đâu ra bậc đai nhân “quay đi chữ Đại, ngoảnh lại chữ Vương”, “thiên thần đội nón sắt”… rốt cục rồi họ cũng tìm được nhà Chổm, bèn rước lên làm vua.

Gia phả họ Bùi chép tường tận và có lý hơn: “cụ Bùi Văn Kiệt nghe được tin quan Điện tiền tướng quân bản triều Lê là cụ Nguyễn Kim lánh ở Ai Lao, cụ với em trai (Phiêu kỵ tướng quân) và vợ con lại phù cung phi (tức hoàng hậu Ngọc Quỳnh) với hoàng tử vào Ai Lao đưa đến ông Nguyễn Kim”. Cuộc hội ngộ những nhân vật lớn từ “vua biết mặt, chúa biết tên” đều là thần tử cũ vua Chiêu Tông, dẫu có người chưa một lần giáp mặt, nhưng danh tính, lai lịch nhau đều tỏ tường, nhất là cụ Văn Kiệt đem các bảo chứng, di thư của hoàng đế Chiêu Tông truyền cho hoàng tử… Vì thế các ông Nguyễn Kim, Đinh Công, Lại Thế Khanh cùng tôn hoàng tử Ninh lên ngôi hoàng đế. Vua ban tước hàm cho các công thần khai quốc. Đại thần Nguyễn Kim có công khởi xướng, được vua ban chức: Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công… Bấy giờ cụ Bùi Văn Kiệt đã 77 tuổi, sức lực đã yếu, chẳng còn có thể xông pha trận mạc, nhưng xét nhiều năm có công phụng dưỡng hầu vua, lại cùng vào sinh ra tử phò tá hoàng hậu nên vẫn ban phẩm hàm: “Tương Dực Công”. Em trai ông được phong Phiêu Kỵ tướng quân. Hai con trai Tương Dực Công: Bùi Nhất Lang được phong thiếu úy, Bùi Nhị Lang được phong chức Đô Đài ngự sử”.
Sau 7 năm xây dựng căn cứ trên đất Lão Qua (1533 – 1540), số cựu thần trong nước tề tựu ngày một nhiều, trai tráng trong nước vượt biên giới đến đầu quân ngày một đông… tháng 11 năm Dương Hòa thứ 8 (1540) Lê Trang Tông và Thái sư Nguyễn Kim đem quân về nước đánh vào Thanh Hóa, Tương Dực công được cùng tháp tùng vua về nước, nhưng tới địa phận huyện Lôi Dương thì mất, hưởng thọ 84 tuổi. Vua Trang Tông cho xây phần mộ cựu lão thần Tương Dực công – Đô thống Bùi Văn Kiệt tại nơi cụ mất và tự tay ngự bút đôi câu đối:

“Phục quốc anh nhân, tài thị Vũ Hầu công cánh bội

Trung Hưng danh tướng, trung siêu Quách Lý sự vưu ran”

Vài lời mạn đàm về Tương Dực công Bùi Văn Kiệt:

Cụ Bùi Văn Kiệt sinh trong buổi thời Lê thịnh nhưng nhập quan trường phải thời bạo loạn… Kể từ đời vua Uy Mạc nhà Lê đã suy yếu lắm rồi. Tính từ năm Giáp Tý (1504) Lê Hiến Tông băng hà đến năm Đinh Hợi (1527) triều đình luôn thay đổi chúa, từ Lê Túc Tôn, Lê Uy Mạc, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng… trong gần 23 năm thay 5 vua… chung cục là ngày 15 tháng 5 năm Đinh Hợi (1527) nhà Lê mất, nhà Mạc lên thay.
Lịch sử như quy luật sóng thủy triều… các vương triều thịnh rồi suy, xã tắc “Bĩ rồi lại thái”… trong buổi giao thời người kẻ sĩ trong thiên hạ khó giữ trọn vẹn danh tiết, đẹp lòng cả vua cũ, vua mới. Một người nổi tiếng sử xanh như Huệ Tông hoàng hậu – Linh Từ quốc mẫu còn bị sử ký bình “bà đối với nhà Trần thì có công, đối với nhà Lý thì có tội”. Các bậc khanh tướng tôn thờ vua mới, ai yêu thì tôn “thức giả”, ai ghét thì qui tội “bất trung”. Người dốc lòng trung thành chủ cũ, ai yêu gọi họ là trung thần, ai ghét thì liệt họ vào hàng “ngu trung”, “ thủ cựu”.

Cuộc chiến hai nhà Trịnh, Mạc trong nội chiến Nam – Bắc triều là sự tranh đoạt giữa hai tập đoàn chính trị. Buổi đầu triều Mạc mạnh, Nam triều yếu… nhưng rồi nhà Mạc dần suy. Tập đoàn phong kiến Lê Trịnh dương ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc” càng về sau càng được nhiều người ủng hộ rồi đến năm Nhâm Thìn (1592) lấy lại được kinh thành Thăng Long. Một nhân tố quan trọng không thể quên: Tập đoàn họ Trịnh đã triệt để khai thác uy tín to lớn của Lê Thái Tổ, Thái Tông “bình thành công đức đã lâu”, “ai ai cũng đội trên đầu dám quên”, giương ngọn cờ đầu trung hưng để tập hợp lực lượng… mà minh chủ ngọn cờ ấy là Lê Trang Tông (Lê Duy Ninh) và các hậu duệ Trang Tông là Trung Tông, Thế Tông… để rồi lấy lại cơ đồ.

Với các chúa Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng họ vì nước hay vì nhà, họ sát hại vua Trung Tông là vì nghĩa lớn hay vì tư lợi, họ mâu thuẫn với các con đại thần Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng… ai đúng ai sai… Nhà chúa luôn áp chế nhà vua vì vua sai hay đúng… đó là chuyện lịch sử, nhưng riêng với gia đình họ Bùi (làng Đồng Thanh), tổ Bùi Văn Kiệt thân phò tá Chiêu Tông tử chiến ở thành Ngự Thiên lại cùng vua cố thủ ở đất Thanh Hóa. Vua bị bắt, cả gia đình 8 năm phụng sự hoàng tử phải “giấu sang làm hèn, giấu khôn làm dại”, một lòng “trung nghĩa cầu may”, “nhẫn nhục”, “lẫn lút” đưa cả gia đình vào nơi hoang dã, xa lạ, 8 năm đêm dạy hoàng tử học hành, ngày dẫn chúa dùng “khổ nhục kế” che mắt quân do thám, 7 năm bền bỉ cùng các đại thần trên đất nước Lão Qua chiêu binh nạp tướng, lại dạy con cháu nối đời trung thành với triều Lê. Hai con trai một con được phong chức Thiếu úy, con làm Đô đài Ngự sử… “măng non nối tiếp tre già”, 2 cháu đều là tôi trung nghĩa, giữ chức Điện tiền Đô Điểm kiểm điểm, Trung úy, chắt nội Bùi Văn Đức làm tới chức Điện tiền Đô điểm kiểm, Bùi Ngọc Toản làm Đô chỉ huy sứ chiến đấu cho ngày toàn thắng, rước hoàng đế Lê Thế Tông về thiết triều ở Thăng Long.
Hoàng đế Trang Tông đã đánh giá đúng công lao của bậc lão thần, một lão bộc và cũng là công thần trung hưng rất cao, tài như Vũ Hầu (Khổng Minh) công lớn như Quách Tử Nghi dẹp loạn An Lộc Sơn trung hưng nhà Đường.

Có thể câu đối:

Phục quốc anh nhân, tài thị Vũ Hầu công cánh bội

Trung hưng danh tướng trung siêu Quách Lý sự vưu nan

Có phần khách khí, nhưng cái chí, cái tâm của Bùi tướng công có thể so bằng, thậm chí hơn Khổng Minh của Quách Tử Nghi.

 

Bùi Duy Lan

Thái Bình, tháng 12 năm 2014

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 1
  • 67
  • 1,030,930